Thiết kế tai nâng theo Eurocode: tấm tai nâng thép kiểm tra theo EN 1993-1-8 (hình học Loại A, kéo, cắt và uốn tấm, xé khối, ép mặt, chốt và mối hàn góc) và móc cốt thép chôn sẵn kiểm tra theo EN 1992-1-1 (kéo cốt thép, cắt và chiều dài neo dính bám) - kèm dẫn giải từng bước.
Công cụ tính toán trực tuyến miễn phí, có lời giải từng bước và xuất file Excel (.xlsx) và PDF chỉ với một chạm.
Tai cẩu là điểm liên kết mà ma ní móc vào khi cẩu một cấu kiện chế tạo sẵn. Tool này bao gồm hai nhóm: tai cẩu bằng thép theo EN 1993-1-8, và móc cẩu chôn sẵn trong bê tông theo EN 1992-1-1.
Với tai cẩu thép, tool kiểm tra bản chịu kéo trên tiết diện thực tại lỗ, bứt mép, uốn, xé khối và ép mặt với chốt, bản thân chốt chịu cắt, uốn và tác dụng tổ hợp, mối hàn vào cấu kiện mẹ, cùng các yêu cầu hình học lỗ kiểu A mà bản phải thỏa mãn trước khi mọi bước kiểm tra cường độ có ý nghĩa.
Tải trên một điểm cẩu được xây dựng từ trọng lượng cấu kiện qua nhiều hệ số nhân, và hệ số nào cũng quan trọng: trọng lượng chia cho số điểm cẩu, rồi nhân hệ số khuếch đại động của thao tác cẩu, rồi nhân hệ số an toàn phù hợp với công tác cẩu lắp, rồi hiệu chỉnh theo góc cáp - vì cáp nghiêng tạo lực lớn hơn cáp thẳng đứng với cùng một tải trọng đứng.
Góc cáp là yếu tố hay bị đánh giá thấp nhất. Cặp cáp nghiêng 60 độ so với phương ngang chịu lực lớn hơn khoảng 15 phần trăm so với cẩu thẳng đứng; ở 30 độ mức tăng là 100 phần trăm. Tool nhận góc một cách tường minh chứ không giả thiết thẳng đứng, và các bước kiểm tra hình học cũng thay đổi theo, vì tải nghiêng kéo chốt tì vào thành lỗ chứ không ép thẳng vào.
Các yêu cầu kiểu A quy định lượng vật liệu tối thiểu ở hai bên lỗ và phía trên lỗ, biểu diễn theo đường kính lỗ và chiều dày bản. Với số liệu mặc định của tool, các giá trị này ra khoảng 34 mm yêu cầu so với 50 mm có được ở bên cạnh lỗ, và 17 mm yêu cầu so với 50 mm phía trên - cả hai đều đạt với dự trữ.
Đây không phải quy định cấu tạo tùy tiện. Tai cẩu có quá ít vật liệu bên cạnh lỗ sẽ bị bứt rách thay vì chảy dẻo, đó là phá hoại giòn không báo trước, và các công thức cường độ giả thiết điều đó không xảy ra. Nếu kiểm tra hình học không đạt thì tăng chiều dày bản ở chỗ khác cũng không làm các con số cường độ trở nên có giá trị.
Hệ số khuếch đại động và hệ số an toàn là số liệu nhập vào, không phải giá trị mặc định mà tool có thể tự chọn cho bạn. Chúng phụ thuộc thao tác cẩu, thiết bị cẩu, môi trường và tiêu chuẩn cẩu lắp hoặc yêu cầu của chủ đầu tư - cẩu ngoài khơi và cẩu trong xưởng dùng giá trị rất khác nhau, và chênh lệch đủ lớn để làm đổi thiết kế.
Tool kiểm tra tai cẩu; không kiểm tra cấu kiện mà nó được hàn vào. Gia cường cục bộ bản mẹ, đường truyền lực vào kết cấu và ổn định của cấu kiện khi treo là những đánh giá riêng. Tool cũng giả thiết chốt hoặc chốt ma ní vừa khít lỗ - lỗ quá rộng làm thay đổi cả diện tích ép mặt lẫn nhịp uốn của chốt.
Phân tích tĩnh cho thao tác cẩu có kiểm soát. Tải giật, va chạm, gió tác dụng lên vật treo và cẩu lặp lại nhiều lần (mỏi) nằm ngoài phạm vi, và điểm cẩu dùng lại nhiều lần có thể cần đánh giá mỏi mà tool không cung cấp.