Thiết kế và kiểm tra tiết diện bê tông cốt thép theo Eurocode 2 (EN 1992-1-1) và TCVN 5574. Chọn một loại tiết diện bên dưới - mỗi loại mở một tool tương tác bao gồm uốn và nén uốn TTGH cường độ (tương tác N-M / P-M), cắt và bề rộng vết nứt & độ võng TTGH sử dụng, kèm dẫn giải từng bước và kết luận ĐẠT/KHÔNG ĐẠT rõ ràng. Tiết diện chữ nhật và tròn BTCT (cột và dầm) cùng cọc ly tâm ứng suất trước đã có sẵn.
Công cụ tính toán trực tuyến miễn phí, có lời giải từng bước và xuất file Excel (.xlsx) và PDF chỉ với một chạm.
Thiết kế bê tông cốt thép chia thành các loại cấu kiện và vùng riêng biệt, mỗi loại có phương pháp phân tích riêng. Trang này là điểm khởi đầu: nó giải thích tool nào áp dụng cho tình huống nào, để bạn dùng đúng phương pháp thay vì ép một phép kiểm tra tiết diện vào nơi cần mô hình khác.
Mọi tool bê tông đều hỗ trợ Eurocode 2 và, khi phù hợp, TCVN 5574 như một engine riêng chứ không phải bản dịch - hai tiêu chuẩn dùng mô hình vật liệu, hệ số riêng phần và cách tính cắt khác nhau, nên đổi tiêu chuẩn là đổi kết quả.
Thiết kế tiết diện thông thường giả thiết tiết diện phẳng vẫn phẳng. Điều đó đúng trên phần lớn chiều dài dầm hay cột, và chính nó cho phép thiết kế một tiết diện chỉ từ mô men uốn và lực dọc.
Điều đó không còn đúng ở các vùng nhiễu - trong phạm vi khoảng một chiều cao cấu kiện quanh tải tập trung, gối tựa, lỗ mở hoặc chỗ đổi hình học đột ngột, và trên toàn bộ cấu kiện có tỉ số nhịp trên chiều cao dưới khoảng ba. Ở đó biến dạng không phân bố tuyến tính theo chiều cao và phép kiểm tra tiết diện cho kết quả sai bất kể làm cẩn thận đến đâu. Mô hình giàn ảo là phương pháp cho những vùng đó, và đó là lý do dầm cao và dầm thường cùng vật liệu lại cần tool khác nhau chứ không phải chỉ khác con số.
Các tool này kiểm tra tiết diện và vùng, không kiểm tra cấu kiện và không kiểm tra hệ kết cấu. Độ mảnh và hiệu ứng bậc hai được xử lý ở mức tiết diện khi phù hợp, nhưng ổn định tổng thể của khung, đường truyền lực và bước phân tích sinh ra nội lực thiết kế là những việc riêng.
Kết quả về khả năng sử dụng - bề rộng vết nứt và độ võng - phụ thuộc nhiều vào từ biến, co ngót và mức độ nứt giả thiết, nên vốn kém chính xác hơn các con số ở trạng thái cường độ, và giá trị dài hạn thường gấp hai tới ba lần giá trị tức thời. Cấu tạo, chiều dài neo và nối, chọc thủng, xoắn, mỏi, chịu lửa và thiết kế kháng chấn nằm ngoài phạm vi của tất cả các tool.